GIỚI THIỆU TỔ CHỨC HỘI

ĐIỀU LỆ

HỘI BẢO TRỢ BỆNH NHÂN NGHÈO TỈNH KIÊN GIANG

( SỬA ĐỔI – BỔ SUNG )

 

 

Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang được thành lập nhằm vận động lòng nhân ái cộng đồng chia sẻ cho bệnh nhân nghèo, người nghèo và nơi khó khăn, góp phần thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội do Nhà nước phát động.

 

CHƯƠNG I

TÊN GỌI - TÔN CHỈ - MỤC ĐÍCH CỦA HỘI

 

Điều 1: Hội lấy tên: "Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang".

Tên giao dịch quốc tế:  KIÊN GIANG CHARITY FOUNDATION

                                      - Together for The Less Fortunate people.

 

Điều 2: Hội là tổ chức xã hội từ thiện, qui tụ những người có lòng nhân ái, hảo tâm, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, tự nguyện đóng góp công sức, tiền của giúp đỡ, chữa trị bệnh nhân nghèo, giúp đỡ cho người nghèo vượt qua bệnh tật, nơi khó khăn, có cuộc sống tốt hơn.

 

Điều 3: Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang hoạt động theo luật pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Phương châm của Hội là: thiết thực, công khai  và minh bạch.

Điều 4: Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng tại ngân hàng. Trụ sở của Hội đặt tại số 79 đường Bạch Đằng, thành phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang.

 

CHƯƠNG II

NHIỆM VỤ CỦA HỘI

 

Điều 5: Hội có nhiệm vụ:

- Vận động lòng nhân ái của cộng đồng trong và ngoài nước với tinh thần “Lá lành đùm lá rách” tài trợ giúp đỡ tiền và vật chất cho bệnh nhân nghèo,  người nghèo khó, trẻ em bất hạnh và chia sẻ nơi khó khăn.

- Tổ chức các hoạt động gây quỹ, hoạt động sinh lợi cho Hội, để Hội có điều kiện hoạt động bình thường và lâu dài.

- Đề ra và tổ chức thực hiện thắng lợi các chương trình mục tiêu hành động.

-Phối hợp với cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội, từ thiện khác vận động tài trợ, thực hiện công tác an sinh xã hội như xây dựng cầu, đường, trường, trạm, nhà tình thương,... góp phần xoá đói giảm nghèo bền vững.

 

 

CHƯƠNG III

HỘI VIÊN

 

Điều 6: Những công dân Việt Nam và đại diện các tổ chức xã hội, từ thiện khác nếu tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện xin gia nhập, đóng góp công sức, tiền của để phục vụ mục đích của Hội đều được công nhận Hội viên.

- Những người có công sức đóng góp lớn cho Hội, được Ban Thường vụ Hội xét công nhận là “Hội viên danh dự” hoặc tặng danh hiệu “Ân nhân”của Hội.

 

Điều 7: Nhiệm vụ Hội viên:

- Tham gia đóng góp công sức, tiền của phục vụ cho mục đích của Hội.

- Tích cực tuyên truyền và vận động những người giàu lòng từ thiện đến với Hội.

- Thực hiện và giám sát các chương trình hoạt động của Hội.

 

Điều 8: Quyền lợi Hội viên:

- Tham gia ứng cử và bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội.

- Thảo luận và biểu quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của Hội.

- Được Hội giúp đỡ để phát huy khả năng làm công việc từ thiện theo qui định của Hội.

 

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

 

Điều 9: Tổ chức Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo có 02 cấp: Tỉnh Hội và Chi Hội. Tỉnh Hội là tổ chức cấp Tỉnh; Chi Hội là tổ chức cơ sở.

 

Điều 10: Đại hội Đại biểu toàn tỉnh là cơ quan cao nhất của Hội, Đại hội có nhiệm vụ:

- Thảo luận và thông qua báo cáo tổng kết nhiệm kỳ; phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ mới của Hội.

- Thảo luận và thông qua Điều lệ; Điều lệ (sửa đổi, bổ sung); đổi tên, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể Hội.

- Bầu Ban Chấp hành.

- Các nội dung khác.

- Thông qua Nghị quyết tại Đại hội.

* Nguyên tắc:

- Đại hội có thể biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. việc qui định hình thức biểu quyết do Đại hội quyết định.

- Việc biểu quyết thông qua các quyết định của Đại hội phải được quá 1/2 (một phần hai) Đại biểu chính thức có mặt tại Đại hội tán thành.

 

Điều 11: Giữa hai kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của Hội là Ban Chấp hành, nhiệm kỳ 5 năm.

- Ban Chấp hành Hội làm việc theo chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên. Ban Chấp hành họp định kỳ 6 tháng một lần để kiểm điểm kết quả hoạt động và xây dựng chương trình hoạt động của Hội.

- Khi có yêu cầu, Chủ tịch Hội có quyền triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành.

- Số lượng Ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định, nhưng không quá 41 người. Ban Thường vụ 12 người. Trong nhiệm kỳ, nếu xét cần thiết thì Ban Chấp hành có thể bầu bổ sung.

- Số lượng Ban Kiểm tra do Ban Chấp hành bầu, nhưng không quá 05 người. Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Ủy viên thì Ban Chấp hành có thể bầu bổ sung.

Số lượng Ban Kiểm tra do Đại hội quyết định, nhưng không quá 05 người. Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Ủy viên thì Ban chấp hành có thể bầu bổ sung, nhưng không quá 02 người.

 

Điều 12: Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành cùng với nhiệm kỳ của Đại hội. Ban chấp hành Hội bầu ra Ban Thường vụ, bầu Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, bầu Ban Kiểm tra, Trưởng Ban Kiểm tra. Ban chấp hành bầu Chủ tịch danh dự (nếu cần ).

 

Điều 13: Nhiệm kỳ của Ban Thường vụ cùng với nhiệm kỳ của Đại hội. Ban Thường vụ của Hội gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Thường vụ khác được phân công phụ trách các lĩnh vực công tác.

- Chủ tịch là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Hội, và là Chủ tài khoản của Hội.

- Các Phó Chủ tịch là người thay mặt cho Chủ tịch theo sự ủy quyền của Chủ tịch và phụ trách các chương trình hoạt động chủ yếu cuả Hội. Các Ủy viên thường vụ phụ trách Văn phòng, bộ phận chuyên môn, doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo và Chi hội trưởng một số Chi hội.

- Chánh Văn phòng là người chịu trách nhiệm điều hành văn phòng theo sự chỉ đạo của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch.

 

Điều 14: Ban Kiểm tra:

     Nhiệm kỳ của Ban Kiểm tra cùng với nhiệm kỳ Đại hội. Có nhiệm vụ:

- Giám sát việc thi hành Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội, nghị quyết của Ban Chấp hành.

- Giám sát việc thu – chi tài chính và sử dụng tài sản của Hội.

- Xem xét và giải quyết các đơn khiếu nại, khiếu tố và đề nghị với Ban Thường vụ hoặc Ban Chấp hành Hội xử lý những vấn đề nghiêm trọng.

- Kiểm tra việc thi hành kỷ luật đối với Hội viên.

 

Điều 15: Tổ chức cơ sở của Hội là Chi hội ở các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, ngành, giới, Công ty, Xí nghiệp, Bệnh viện, Chợ, xã, phường, thị trấn hoặc liên xã, phường, thị trấn có yêu cầu.

- Nơi nào có từ 3 đến 5 hội viên thì thành lập Chi hội, có Chi hội trưởng. Từ 6 đến 9 hội viên có Chi hội trưởng, Chi hội phó và kiểm tra kiêm thư ký. Từ 10 hội viên trở lên có Ban Chấp hành; số lượng Ban Chấp hành không quá 1/3 (một phần ba) hội viên, nhưng nhiều nhất không quá 15 người, Ban Thường vụ không quá 5 người.

- Nhiệm kỳ của Ban chấp hành Chi hội là 5 năm.

 

Điều 16: Nhiệm vụ của Chi hội:

- Tuyên truyền, vận động tiền, của cho quỹ Chi hội.

- Phát triển hội viên mới.

- Thực hiện chương trình mục tiêu, kế hoạch của Chi hội.

- Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Chi hội và Tỉnh hội.

- Sinh hoạt định kỳ 6 tháng một lần, họp đột xuất khi cần thiết và báo cáo về Tỉnh hội.

   

CHƯƠNG V

KHEN THƯỞNG – KỶ LUẬT

 

Điều 17: Những hội viên, cán bộ, tập thể, có nhiều thành tích thì được Hội khen thưởng, hoặc được Hội đề nghị cơ quan cấp trên khen thưởng.

 

Điều 18: Những cán bộ, hội viên hoặc tập thể nào vi phạm Điều lệ, Nghị quyết của Hội hoặc làm tổn thương đến uy tín, danh dự của Hội sẽ bị thi hành kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, cách chức, đưa ra khỏi Hội hoặc giải tán.

 

CHƯƠNG VI

TÀI SẢN VÀ TÀI CHÍNH CỦA HỘI

 

Điều 19: Tài sản và tài chính của Hội gồm:

- Tiền, và vật chất do các cá nhân, các tổ chức tài trợ, ủng hộ.

- Tiền thu được từ các hoạt động gây quỹ và lãi gửi ở ngân hàng.

- Doanh thu do các hoạt động sinh lợi của Hội.

 

Điều 20: Tài sản và tài chính của Hội được quản lý và sử dụng đúng mục đích, trong đó:

- Chi cho các chương trình hành động của Hội.

- Chi các hoạt động thường xuyên, thù lao tiền công, tiền lươg cho can bộ Hội.

- Chi đầu tư nhằm phát triển quỹ Hội, sinh lợi cho Hội.

 

Điều 21: Thường trực Hội có trách nhiệm theo dõi thu – chi, công khai tài sản và tài chính, định kỳ báo cáo bằng văn bản việc tiếp nhận và sử dụng tiền, tài sản tại các cuộc họp của Ban Thường vụ và Ban Chấp hành và cơ quan.

 

Điều 22: Trường hợp Hội tự giải tán hoặc sáp nhập với tổ chức từ thiện khác, tài sản và tài chính của Hội do Ban Chấp hành Hội xem xét, và trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh quyết định.

 

CHƯƠNG VII

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

 

Điều 23: Chỉ có Đại hội Đại biểu Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ năm (2017 - 2022) mới có quyền sửa đổi Điều lệ này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội phải được 2/3 (hai phần ba) số Đại biểu chính thức có mặt tại Đại hội tán thành.

 

Điều 24: Điều lệ này thay thế Điều lệ nhiệm kỳ II. Điều lệ Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ năm (2017 - 2022) gồm 7 chương, 24 điều do Đại hội Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ năm (2017 - 2022) thông qua ngày 12 tháng 5 năm 2017 và có hiệu lực thi hành được Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định phê duyệt.

       Căn cứ qui định pháp luật về Hội và Điều lệ Hội, Ban Chấp hành Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Điều lệ này./.

 


                 BAN THƯỜNG VỤ HỘI BTBNN KIÊN GIANG

TẤM LÒNG VÀNG